Quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược
Thông tư quy định việc lập dự
toán, quản lý, sử dụng, cấp kinh phí, thanh toán, quyết toán đối với các nội
dung chi quản lý và chi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ
chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia
đặc biệt về công nghệ chiến lược (sau đây viết tắt là nhiệm vụ phát triển công
nghệ chiến lược) quy định tại Điều 7 Nghị định số
260/2026/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ quy định chi
tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao (sau đây viết tắt
là Nghị định số 260/2026/NĐ-CP).
Thông tư này áp dụng đối với cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến
nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược tại Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt
Nam nhưng có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước
quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Tập trung nguồn lực cho công nghệ chiến
lược
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ gồm
ngân sách nhà nước và các nguồn ngoài ngân sách, trong đó có kinh phí đối ứng
của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia, nguồn hợp tác quốc tế và các nguồn
tài chính hợp pháp khác. Đáng chú ý, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh
phí đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng; nhiệm vụ nghiên cứu, làm chủ công
nghệ lõi, công nghệ nền tảng hoặc công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, quốc phòng, an ninh; cũng như nhiệm vụ
có mức độ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Với nhiệm vụ
nhằm phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển
giao, thương mại hóa, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70%, phần còn lại do các
tổ chức, cá nhân tham gia bố trí từ kinh phí đối ứng. Kinh phí đối ứng không
chỉ là tiền. Thông tư cho phép tính cả máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ,
phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, hạ tầng kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ,
phần mềm và một số nguồn lực hợp pháp khác được sử dụng trực tiếp cho nhiệm vụ.
Một điểm mới đáng chú ý khác nằm ở cách
lập dự toán. Kinh phí được lập theo từng gói công việc, gắn với mục tiêu, sản
phẩm đầu ra và kết quả cuối cùng; các gói công việc được tổng hợp theo từng mốc
đánh giá. Cách tiếp cận này bảo đảm xuyên suốt quá trình từ nghiên cứu khoa
học, phát triển công nghệ, sản xuất nguyên mẫu, thử nghiệm đến chuyển giao,
thương mại hóa sản phẩm.
Kinh phí đi theo kết quả, người làm được
trao quyền
Thông tư dành một cơ chế đáng chú ý cho
nhân lực thực hiện nhiệm vụ. Dự toán thù lao được xác định theo vị trí công
việc, gắn với nội dung công việc, yêu cầu chuyên môn và sản phẩm đầu ra của
từng gói công việc. Đáng chú ý, Tổng công trình sư có mức thù lao tối đa 300
triệu đồng/tháng; Chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa 150 triệu đồng/tháng. Thành viên
chính có thể nhận tối đa 100-120 triệu đồng/tháng, tùy vị trí; thành viên trực
tiếp thực hiện từ 70 đến 90 triệu đồng/tháng; kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ
chuyên môn tối đa 45 triệu đồng/tháng. Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê
duyệt dự toán; mức thực tế được xác định căn cứ vị trí, thời gian và mức độ
tham gia thực hiện nhiệm vụ.
Điểm cốt lõi của cơ chế tài chính mới là
gắn cấp, thanh toán và quyết toán kinh phí với kết quả thực hiện. Việc quản lý
kinh phí chủ yếu áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng theo kết quả tại các
mốc đánh giá. Kết quả của từng mốc là căn cứ thanh toán, quyết toán phần kinh
phí tương ứng và cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo.
Thông tư cũng cho phép lựa chọn từ hai tổ
chức, doanh nghiệp trở lên để thực hiện các phương án nghiên cứu độc lập cùng
hướng tới một mục tiêu, qua đó tạo thêm cơ sở so sánh và lựa chọn phương án có
kết quả phù hợp. Nếu một phương án bị dừng theo kết quả đánh giá, tổ chức chủ
trì được thanh toán, quyết toán phần kinh phí tương ứng với các mốc đã hoàn
thành; không tiếp tục bố trí kinh phí cho phần công việc chưa thực hiện.
Đáng chú ý, tổ chức chủ trì được chủ động
điều chỉnh kinh phí trong một số phạm vi và tự quyết định, tự chịu trách nhiệm
về lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp phục vụ trực tiếp nhiệm vụ, trên cơ sở bảo
đảm yêu cầu về mục tiêu, sản phẩm, kỹ thuật, tiến độ, công khai, minh bạch,
hiệu quả.
Với đặc thù rủi ro cao của phát triển
công nghệ chiến lược, Thông tư quy định kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng dự
toán kinh phí từ ngân sách nhà nước. Trường hợp nhiệm vụ được xác định thuộc
diện rủi ro được chấp nhận theo quy định, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả
phần kinh phí ngân sách đã sử dụng đúng mục tiêu, nội dung, phạm vi và quy
định; kinh phí sử dụng sai mục đích hoặc không đúng quy định vẫn phải hoàn trả.
Nhiều phương án nghiên cứu giải bài toán
lớn
Nghiên cứu công nghệ mới không phải lúc
nào cũng có thể biết trước phương án nào sẽ thành công. Vì vậy, đối với những
bài toán có nhiều hướng công nghệ khả thi, cơ chế mới cho phép triển khai nhiều
phương án nghiên cứu độc lập, cùng hướng tới một mục tiêu, yêu cầu và chỉ tiêu
đánh giá. Mỗi phương án được lập dự toán, giao kinh phí, ký hợp đồng, thanh
toán và quyết toán riêng; được đánh giá, sàng lọc theo kết quả tại từng mốc.
Phương án không còn phù hợp có thể được chấm dứt; phần kinh phí tương ứng với các
mốc đã hoàn thành được thanh toán, quyết toán theo quy định và không tiếp tục
bố trí ngân sách cho các mốc chưa thực hiện. Cơ chế này tạo điều kiện thử
nghiệm nhiều con đường công nghệ nhưng không dàn trải nguồn lực đến cuối nhiệm
vụ, qua đó tăng khả năng lựa chọn được giải pháp tốt hơn trên cơ sở kết quả
thực tế.
Bố trí kinh phí dự phòng xử lý phát sinh
khi thực hiện
Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ
chiến lược, kinh phí dự phòng được lập để xử lý các phát sinh trong quá trình
thực hiện theo quy định. Việc lập dự phòng căn cứ nội dung công việc, yêu cầu
kỹ thuật, tiến độ thực hiện của từng gói công việc và các yếu tố có thể phát
sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Mức kinh phí dự phòng do tổ chức chủ
trì đề xuất, được cơ quan quản lý nhiệm vụ xem xét, quyết định nhưng không vượt
quá 10% tổng dự toán kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ. Khoản
kinh phí này được lập, thẩm định và phê duyệt cùng với dự toán nhiệm vụ.
Việc sử dụng kinh phí dự phòng phải có
căn cứ, được tổ chức chủ trì thuyết minh, chịu trách nhiệm và thực hiện đối với
các trường hợp thuộc phạm vi pháp luật quy định. Kinh phí được cấp trong phạm
vi mức dự phòng đã được phê duyệt trên cơ sở đề nghị của tổ chức chủ trì và
quyết định của cơ quan quản lý nhiệm vụ. Cơ chế này tạo dư địa để xử lý kịp
thời các phát sinh hợp pháp, góp phần hạn chế gián đoạn tiến độ nghiên cứu và
phát triển công nghệ.
Trao quyền tự chủ trong lựa chọn nhà
thầu, nhà cung cấp
Đối với mua sắm, thuê trang thiết bị, máy
móc, hàng hóa và dịch vụ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ, tổ chức chủ trì được tự
quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp. Việc
lựa chọn phải tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu, pháp luật chuyên
ngành có liên quan và yêu cầu kỹ thuật của nhiệm vụ. Quyền chủ động này phải đi
cùng yêu cầu phục vụ trực tiếp mục tiêu nhiệm vụ; đáp ứng yêu cầu kỹ thuật,
công nghệ và tiến độ; bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, không xung đột lợi
ích và tuân thủ pháp luật.
Đối với công nghệ chiến lược có tốc độ
thay đổi nhanh, thời gian cũng là một nguồn lực. Một quy trình tài chính kéo
dài có thể đồng nghĩa với việc mất cơ hội tiếp cận thiết bị, công nghệ hoặc thị
trường. Cơ chế mới vì vậy hướng tới trao quyền quyết định gần hơn với nơi trực
tiếp tổ chức nghiên cứu, đồng thời xác lập rõ trách nhiệm của người ra quyết
định.
Để hạn chế gián đoạn nghiên cứu, tổ chức
chủ trì được sử dụng nguồn tài chính hợp pháp của mình hoặc các nguồn vốn hợp
pháp khác để ứng trước kinh phí thực hiện những nội dung cấp bách cần triển
khai ngay, trước khi ngân sách nhà nước được cấp.
Khoản kinh phí ứng trước được tổng hợp để
thanh toán, quyết toán theo quy định. Cơ chế này đặc biệt có ý nghĩa đối với
những công đoạn nghiên cứu, thử nghiệm hoặc mua sắm cần thực hiện liên tục, nơi
việc chậm một khâu có thể ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ của gói công việc và
nhiệm vụ.
Trao quyền đi cùng hậu kiểm và trách
nhiệm giải trình
Tổ chức chủ trì được chủ động hơn trong
tổ chức nhân lực, bố trí nguồn lực, điều chỉnh kinh phí trong phạm vi cho phép
và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhưng phải chịu trách nhiệm về sản phẩm, chỉ
tiêu kỹ thuật, tiến độ, hiệu quả sử dụng kinh phí và tính trung thực của hồ sơ.
Thông tin về quản lý, sử dụng kinh phí
được cập nhật trên Nền tảng số; cơ quan quản lý theo dõi, giám sát theo nguyên
tắc quản lý rủi ro và có thể yêu cầu giải trình, kiểm tra hoặc kiểm toán độc
lập khi có căn cứ theo quy định.
Đây là sự chuyển dịch từ quản lý nặng về
tiền kiểm sang mô hình trao quyền, theo dõi kết quả, hậu kiểm và kiểm soát rủi
ro, vừa tạo thuận lợi cho nghiên cứu vừa bảo đảm kỷ luật ngân sách.
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN không chỉ
điều chỉnh định mức chi mà hướng tới thay đổi cách Nhà nước sử dụng nguồn lực
tài chính để thúc đẩy công nghệ chiến lược: đầu tư tương xứng cho con người;
huy động chuyên gia giỏi; tổ chức nguồn lực theo gói công việc; cấp và thanh
toán kinh phí theo mốc kết quả; trao quyền cho tổ chức thực hiện; huy động
doanh nghiệp cùng tham gia; tạo dư địa xử lý rủi ro của nghiên cứu và tăng
cường hậu kiểm, trách nhiệm giải trình.
Thông qua các cơ chế này, nguồn lực công
được định hướng mạnh hơn vào kết quả cuối cùng: làm chủ công nghệ, hình thành
sản phẩm, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa, qua đó góp phần nâng cao năng
lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN có hiệu lực
từ ngày 01/8/2026. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn tại
Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo các văn bản
sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó. Trường hợp có quy định khác nhau về một vấn
đề giữa Thông tư này với Thông tư số 38/2025/TT-BKHCN và Thông tư số
39/2025/TT-BKHCN thì áp dụng quy định của Thông tư này.