image banner
Quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược
Lượt xem: 17

Ngày 01/8/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

anh tin bai

    Thông tư quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng, cấp kinh phí, thanh toán, quyết toán đối với các nội dung chi quản lý và chi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược (sau đây viết tắt là nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược) quy định tại Điều 7 Nghị định số 260/2026/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao (sau đây viết tắt là Nghị định số 260/2026/NĐ-CP).

     Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược tại Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Tập trung nguồn lực cho công nghệ chiến lược

    Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ gồm ngân sách nhà nước và các nguồn ngoài ngân sách, trong đó có kinh phí đối ứng của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia, nguồn hợp tác quốc tế và các nguồn tài chính hợp pháp khác. Đáng chú ý, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng; nhiệm vụ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng hoặc công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, quốc phòng, an ninh; cũng như nhiệm vụ có mức độ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Với nhiệm vụ nhằm phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70%, phần còn lại do các tổ chức, cá nhân tham gia bố trí từ kinh phí đối ứng. Kinh phí đối ứng không chỉ là tiền. Thông tư cho phép tính cả máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, hạ tầng kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ, phần mềm và một số nguồn lực hợp pháp khác được sử dụng trực tiếp cho nhiệm vụ.

    Một điểm mới đáng chú ý khác nằm ở cách lập dự toán. Kinh phí được lập theo từng gói công việc, gắn với mục tiêu, sản phẩm đầu ra và kết quả cuối cùng; các gói công việc được tổng hợp theo từng mốc đánh giá. Cách tiếp cận này bảo đảm xuyên suốt quá trình từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất nguyên mẫu, thử nghiệm đến chuyển giao, thương mại hóa sản phẩm.

    Kinh phí đi theo kết quả, người làm được trao quyền

    Thông tư dành một cơ chế đáng chú ý cho nhân lực thực hiện nhiệm vụ. Dự toán thù lao được xác định theo vị trí công việc, gắn với nội dung công việc, yêu cầu chuyên môn và sản phẩm đầu ra của từng gói công việc.     Đáng chú ý, Tổng công trình sư có mức thù lao tối đa 300 triệu đồng/tháng; Chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa 150 triệu đồng/tháng. Thành viên chính có thể nhận tối đa 100-120 triệu đồng/tháng, tùy vị trí; thành viên trực tiếp thực hiện từ 70 đến 90 triệu đồng/tháng; kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ chuyên môn tối đa 45 triệu đồng/tháng. Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê duyệt dự toán; mức thực tế được xác định căn cứ vị trí, thời gian và mức độ tham gia thực hiện nhiệm vụ.

    Điểm cốt lõi của cơ chế tài chính mới là gắn cấp, thanh toán và quyết toán kinh phí với kết quả thực hiện. Việc quản lý kinh phí chủ yếu áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng theo kết quả tại các mốc đánh giá. Kết quả của từng mốc là căn cứ thanh toán, quyết toán phần kinh phí tương ứng và cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo.

    Thông tư cũng cho phép lựa chọn từ hai tổ chức, doanh nghiệp trở lên để thực hiện các phương án nghiên cứu độc lập cùng hướng tới một mục tiêu, qua đó tạo thêm cơ sở so sánh và lựa chọn phương án có kết quả phù hợp. Nếu một phương án bị dừng theo kết quả đánh giá, tổ chức chủ trì được thanh toán, quyết toán phần kinh phí tương ứng với các mốc đã hoàn thành; không tiếp tục bố trí kinh phí cho phần công việc chưa thực hiện.

    Đáng chú ý, tổ chức chủ trì được chủ động điều chỉnh kinh phí trong một số phạm vi và tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp phục vụ trực tiếp nhiệm vụ, trên cơ sở bảo đảm yêu cầu về mục tiêu, sản phẩm, kỹ thuật, tiến độ, công khai, minh bạch, hiệu quả.

    Với đặc thù rủi ro cao của phát triển công nghệ chiến lược, Thông tư quy định kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng dự toán kinh phí từ ngân sách nhà nước. Trường hợp nhiệm vụ được xác định thuộc diện rủi ro được chấp nhận theo quy định, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả phần kinh phí ngân sách đã sử dụng đúng mục tiêu, nội dung, phạm vi và quy định; kinh phí sử dụng sai mục đích hoặc không đúng quy định vẫn phải hoàn trả.

    Nhiều phương án nghiên cứu giải bài toán lớn

    Nghiên cứu công nghệ mới không phải lúc nào cũng có thể biết trước phương án nào sẽ thành công. Vì vậy, đối với những bài toán có nhiều hướng công nghệ khả thi, cơ chế mới cho phép triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập, cùng hướng tới một mục tiêu, yêu cầu và chỉ tiêu đánh giá. Mỗi phương án được lập dự toán, giao kinh phí, ký hợp đồng, thanh toán và quyết toán riêng; được đánh giá, sàng lọc theo kết quả tại từng mốc. Phương án không còn phù hợp có thể được chấm dứt; phần kinh phí tương ứng với các mốc đã hoàn thành được thanh toán, quyết toán theo quy định và không tiếp tục bố trí ngân sách cho các mốc chưa thực hiện. Cơ chế này tạo điều kiện thử nghiệm nhiều con đường công nghệ nhưng không dàn trải nguồn lực đến cuối nhiệm vụ, qua đó tăng khả năng lựa chọn được giải pháp tốt hơn trên cơ sở kết quả thực tế.

    Bố trí kinh phí dự phòng xử lý phát sinh khi thực hiện

    Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, kinh phí dự phòng được lập để xử lý các phát sinh trong quá trình thực hiện theo quy định. Việc lập dự phòng căn cứ nội dung công việc, yêu cầu kỹ thuật, tiến độ thực hiện của từng gói công việc và các yếu tố có thể phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Mức kinh phí dự phòng do tổ chức chủ trì đề xuất, được cơ quan quản lý nhiệm vụ xem xét, quyết định nhưng không vượt quá 10% tổng dự toán kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ. Khoản kinh phí này được lập, thẩm định và phê duyệt cùng với dự toán nhiệm vụ.

    Việc sử dụng kinh phí dự phòng phải có căn cứ, được tổ chức chủ trì thuyết minh, chịu trách nhiệm và thực hiện đối với các trường hợp thuộc phạm vi pháp luật quy định. Kinh phí được cấp trong phạm vi mức dự phòng đã được phê duyệt trên cơ sở đề nghị của tổ chức chủ trì và quyết định của cơ quan quản lý nhiệm vụ. Cơ chế này tạo dư địa để xử lý kịp thời các phát sinh hợp pháp, góp phần hạn chế gián đoạn tiến độ nghiên cứu và phát triển công nghệ.

    Trao quyền tự chủ trong lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp

    Đối với mua sắm, thuê trang thiết bị, máy móc, hàng hóa và dịch vụ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ, tổ chức chủ trì được tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp. Việc lựa chọn phải tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu, pháp luật chuyên ngành có liên quan và yêu cầu kỹ thuật của nhiệm vụ. Quyền chủ động này phải đi cùng yêu cầu phục vụ trực tiếp mục tiêu nhiệm vụ; đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, công nghệ và tiến độ; bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, không xung đột lợi ích và tuân thủ pháp luật.

    Đối với công nghệ chiến lược có tốc độ thay đổi nhanh, thời gian cũng là một nguồn lực. Một quy trình tài chính kéo dài có thể đồng nghĩa với việc mất cơ hội tiếp cận thiết bị, công nghệ hoặc thị trường. Cơ chế mới vì vậy hướng tới trao quyền quyết định gần hơn với nơi trực tiếp tổ chức nghiên cứu, đồng thời xác lập rõ trách nhiệm của người ra quyết định.

    Để hạn chế gián đoạn nghiên cứu, tổ chức chủ trì được sử dụng nguồn tài chính hợp pháp của mình hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác để ứng trước kinh phí thực hiện những nội dung cấp bách cần triển khai ngay, trước khi ngân sách nhà nước được cấp.

    Khoản kinh phí ứng trước được tổng hợp để thanh toán, quyết toán theo quy định. Cơ chế này đặc biệt có ý nghĩa đối với những công đoạn nghiên cứu, thử nghiệm hoặc mua sắm cần thực hiện liên tục, nơi việc chậm một khâu có thể ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ của gói công việc và nhiệm vụ.

    Trao quyền đi cùng hậu kiểm và trách nhiệm giải trình

    Tổ chức chủ trì được chủ động hơn trong tổ chức nhân lực, bố trí nguồn lực, điều chỉnh kinh phí trong phạm vi cho phép và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhưng phải chịu trách nhiệm về sản phẩm, chỉ tiêu kỹ thuật, tiến độ, hiệu quả sử dụng kinh phí và tính trung thực của hồ sơ.

    Thông tin về quản lý, sử dụng kinh phí được cập nhật trên Nền tảng số; cơ quan quản lý theo dõi, giám sát theo nguyên tắc quản lý rủi ro và có thể yêu cầu giải trình, kiểm tra hoặc kiểm toán độc lập khi có căn cứ theo quy định.

    Đây là sự chuyển dịch từ quản lý nặng về tiền kiểm sang mô hình trao quyền, theo dõi kết quả, hậu kiểm và kiểm soát rủi ro, vừa tạo thuận lợi cho nghiên cứu vừa bảo đảm kỷ luật ngân sách.

    Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN không chỉ điều chỉnh định mức chi mà hướng tới thay đổi cách Nhà nước sử dụng nguồn lực tài chính để thúc đẩy công nghệ chiến lược: đầu tư tương xứng cho con người; huy động chuyên gia giỏi; tổ chức nguồn lực theo gói công việc; cấp và thanh toán kinh phí theo mốc kết quả; trao quyền cho tổ chức thực hiện; huy động doanh nghiệp cùng tham gia; tạo dư địa xử lý rủi ro của nghiên cứu và tăng cường hậu kiểm, trách nhiệm giải trình.

    Thông qua các cơ chế này, nguồn lực công được định hướng mạnh hơn vào kết quả cuối cùng: làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa, qua đó góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN có hiệu lực từ ngày 01/8/2026. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó. Trường hợp có quy định khác nhau về một vấn đề giữa Thông tư này với Thông tư số 38/2025/TT-BKHCN và Thông tư số 39/2025/TT-BKHCN thì áp dụng quy định của Thông tư này.

Trịnh Đình Thể - Chi cục Tiêu chuẩn, Đo lường và Chất lượng.
  • Từ khóa :

Đánh giá - Nhận xét

  • 0
  • 0
  • 0
  • 0
  • 0
image advertisement
       HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

image banner