Ninh Bình tạo động lực mới phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ giai đoạn 2026 - 2030
Ninh
Bình phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 50 doanh nghiệp khoa học và công nghệ
trên địa bàn tỉnh
Hình
thành lực lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ có năng lực cạnh tranh
Trong
bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng giữ
vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, việc thúc đẩy
hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ được Ninh Bình xác
định là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn 2026 - 2030.
Theo
Kế hoạch số 308/KH-UBND, Ninh Bình hướng tới triển khai đồng bộ, hiệu quả các
quy định, cơ chế, chính sách về doanh nghiệp khoa học và công nghệ; thúc đẩy
hình thành và phát triển đội ngũ doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên địa
bàn; đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
nhanh và bền vững. Khuyến khích doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân,
doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tăng cường
đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới công nghệ và
thương mại hóa sản phẩm. Qua đó, từng bước hình thành lực lượng doanh nghiệp
khoa học và công nghệ có năng lực cạnh tranh, có khả năng tạo ra và thương mại
hóa các sản phẩm, dịch vụ dựa trên kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo, đóng vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của tỉnh. Đồng
thời, hướng đến mục tiêu phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trở
thành lực lượng nòng cốt thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo và chuyển đổi số của tỉnh; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ; nâng cao năng lực đổi mới công nghệ, năng suất, chất
lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội nhanh và bền vững của tỉnh đến năm 2030.
Phấn
đấu đến năm 2030 có ít nhất 50 doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Để
hiện thực hóa mục tiêu đề ra, Ninh Bình xác định những chỉ tiêu cụ thể đến năm
2030. Theo đó, tỉnh phấn đấu có ít nhất 50 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận
doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật; có ít nhất 10%
doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hỗ trợ phát triển thông qua các chương
trình, đề án, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hoặc các chính
sách hỗ trợ của tỉnh; 100% doanh nghiệp có nhu cầu được tư vấn, hướng dẫn hoàn
thiện hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ;
100% hồ sơ đủ điều kiện được tiếp nhận, thẩm định và giải quyết đúng thời hạn,
đúng quy định của pháp luật; 100% doanh nghiệp khoa học và công nghệ được tiếp
cận, hướng dẫn thực hiện các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Trung ương
và của tỉnh; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp khoa học và công
nghệ và doanh nghiệp có tiềm năng trên địa bàn tỉnh; cập nhật, rà soát thông
tin hàng năm phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Đồng
hành cùng doanh nghiệp từ chính sách đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Để
tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ phát triển, Kế
hoạch số 308/KH-UBND cũng xác định rõ nhóm nhiệm vụ, giải pháp từ hoàn thiện
chính sách, tuyên truyền, đào tạo, khảo sát, xây dựng cơ sở dữ liệu, đến ươm tạo,
chứng nhận và triển khai các chính sách ưu đãi, hỗ trợ.
Tỉnh
sẽ tổ chức rà soát, nghiên cứu, tham mưu hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm
khuyến khích hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ;
nghiên cứu, đề xuất các chính sách hỗ trợ về tín dụng, đất đai, thuế, đầu tư, đổi
mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả
nghiên cứu và phát triển thị trường khoa học và công nghệ phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất cơ chế hỗ
trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có tiềm
năng phát triển thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ; khuyến khích doanh
nghiệp thành lập, trích lập và sử dụng hiệu quả Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ của doanh nghiệp; tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, đổi mới
công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh.
Công
tác tuyên truyền, phổ biến, đào tạo, tập huấn, hội thảo, hội nghị được xác định
là một giải pháp quan trọng. Các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách về
doanh nghiệp khoa học và công nghệ; các chương trình, chính sách hỗ trợ của
Trung ương và của tỉnh sẽ được tuyên truyền, phổ biến đến các tổ chức, doanh
nghiệp và cá nhân trên địa bàn.
Các
hội nghị, hội thảo, tọa đàm, diễn đàn được tổ chức nhằm phổ biến chính sách,
trao đổi kinh nghiệm, kết nối hợp tác và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá
trình hình thành, phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Đồng thời, tổ
chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý nhà nước, tổ chức
khoa học và công nghệ, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân có liên quan về
doanh nghiệp khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ,
thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Khu
Công nghệ cao Hà Nam tỉnh Ninh Bình được thành lập không chỉ tạo động lực phát
triển kinh tế cho tỉnh mà còn góp phần vào chiến lược phát triển công nghiệp
công nghệ cao của cả nước, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và thu hút đầu tư
trong các lĩnh vực công nghệ tiên tiến
Xây
dựng hệ sinh thái kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển
Một
điểm nhấn trong Kế hoạch số 308/KH-UBND là xây dựng cơ sở dữ liệu và tăng cường
kết nối giữa doanh nghiệp với các chủ thể của hệ sinh thái khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo. Tỉnh sẽ rà soát, cập nhật thông tin doanh nghiệp; xây dựng
cơ sở dữ liệu doanh nghiệp khoa học và công nghệ và doanh nghiệp có tiềm năng
phát triển thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo ngành, lĩnh vực. Đồng
thời, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp có tiềm năng phát triển thành
doanh nghiệp khoa học và công nghệ làm cơ sở xác định, lựa chọn doanh nghiệp ưu
tiên hỗ trợ. Việc đánh giá nhu cầu đổi mới công nghệ, nhu cầu chuyển giao công
nghệ; tình hình đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; khai thác tài sản trí tuệ
và thương mại hóa kết quả nghiên cứu của doanh nghiệp sẽ là cơ sở để xây dựng
các chương trình, chính sách hỗ trợ phù hợp.
Bên
cạnh đó, Ninh Bình định hướng hình thành cơ sở dữ liệu số phục vụ công tác quản
lý, theo dõi, đánh giá và kết nối doanh nghiệp với các tổ chức khoa học và công
nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học và các quỹ đầu tư; tăng cường kết nối
cung - cầu công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hoạt động phát triển thị
trường khoa học và công nghệ, khai thác hiệu quả các sàn giao dịch công nghệ, nền
tảng kết nối cung - cầu công nghệ và các tổ chức trung gian của thị trường khoa
học và công nghệ.
Trong
hoạt động ươm tạo và chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, sẽ tăng cường
tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng phương án phát triển; hỗ trợ hoàn thiện
hồ sơ đề nghị cấp mới, cấp thay đổi Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và
công nghệ theo quy định. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển giao quyền sử dụng và quyền
sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có nguồn gốc từ ngân
sách nhà nước cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, góp phần thúc đẩy
thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hình thành doanh nghiệp khoa học và công
nghệ.
Tạo
điều kiện để khoa học, công nghệ trở thành động lực trong doanh nghiệp
Kế
hoạch đặt nhiệm vụ trọng tâm là hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát
triển tài sản trí tuệ; xác lập, quản lý, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ; phát triển thương hiệu, nhãn hiệu và các tài sản trí tuệ phục vụ hoạt động
sản xuất, kinh doanh.
Doanh
nghiệp được hỗ trợ hoàn thiện quy trình công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật;
thử nghiệm, kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng sản phẩm, mô hình kinh doanh và
các điều kiện cần thiết để thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ theo
quy định. Công tác hướng dẫn, tiếp nhận và thẩm định hồ sơ được nâng cao chất
lượng, bảo đảm việc cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ đúng
quy định, công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, triển
khai đầy đủ, kịp thời các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với doanh nghiệp khoa học
và công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chương trình khoa học và công
nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh; các chương trình đổi mới công nghệ, chuyển
đổi số, phát triển tài sản trí tuệ, nâng cao năng suất chất lượng và thương mại
hóa kết quả nghiên cứu.
Việc
kết nối doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học
và công nghệ, chuyên gia, quỹ đầu tư và các tổ chức trung gian được tăng cường
nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các hoạt động kết nối
cung - cầu công nghệ, xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, quảng bá sản phẩm,
mở rộng thị trường trong nước, quốc tế đối với sản phẩm của doanh nghiệp khoa học
và công nghệ cũng được chú trọng.
Để
tăng cường liên kết, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác, Kế hoạch nghiên cứu thành
lập Câu lạc bộ hoặc Hiệp hội doanh nghiệp khoa học và công nghệ tỉnh Ninh Bình
khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Đồng thời, hình thành mạng lưới
liên kết giữa doanh nghiệp khoa học và công nghệ với doanh nghiệp đổi mới sáng
tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức
khoa học và công nghệ và các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong và ngoài tỉnh.
Để
thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh
chỉ đạo rõ trách nhiệm của các sở, ban, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị
liên quan. Theo đó, Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối, chủ trì tham
mưu UBND tỉnh tổ chức triển khai Kế hoạch; xây dựng kế hoạch thực hiện hàng
năm; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát
triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên địa bàn; chủ trì rà soát, thống
kê, xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp có
tiềm năng phát triển thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ; hướng dẫn, tiếp
nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị cấp mới, cấp thay đổi Giấy chứng nhận doanh nghiệp
khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật.
Các
cơ quan, đơn vị liên quan được giao nhiệm vụ cụ thể trong hỗ trợ doanh nghiệp
phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử và chuyển đổi số;
thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp công nghệ cao, nông
nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh; hỗ trợ doanh nghiệp trong khu công
nghiệp; hướng dẫn chính sách ưu đãi về thuế; hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn tín dụng;
kết nối doanh nghiệp với các tổ chức khoa học và công nghệ, viện nghiên cứu,
trường đại học và tổ chức trung gian.
Các
sở, ban, ngành và UBND các xã, phường chủ động lồng ghép nội dung của Kế hoạch
vào chương trình, kế hoạch công tác hàng năm; rà soát, thống kê nhu cầu đổi mới
công nghệ, chuyển giao công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ và thương mại hóa
kết quả nghiên cứu của doanh nghiệp trên địa bàn; phối hợp tuyên truyền, giới
thiệu các doanh nghiệp đủ điều kiện hoặc có tiềm năng phát triển thành doanh
nghiệp khoa học và công nghệ.
Với
định hướng rõ ràng, mục tiêu cụ thể và hệ thống nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, Kế
hoạch phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
giai đoạn 2026 - 2030 đặt doanh nghiệp vào vị trí chủ động, trung tâm trong quá
trình đổi mới công nghệ, nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa kết quả khoa
học, công nghệ.
Từ
xây dựng chính sách, tuyên truyền, đào tạo, hình thành cơ sở dữ liệu, ươm tạo
và chứng nhận, đến hỗ trợ tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số,
kết nối cung - cầu công nghệ và mở rộng thị trường, các nhiệm vụ được chỉ đạo triển
khai theo hướng thiết thực, có mục tiêu, chỉ tiêu và sản phẩm đầu ra cụ thể. Qua
đó, góp phần từng bước hình thành lực lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ
có năng lực cạnh tranh, trở thành lực lượng nòng cốt thúc đẩy khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần tạo nền tảng cho phát triển
kinh tế - xã hội nhanh và bền vững của tỉnh đến năm 2030./.